Các lý thuyết kinh tế của phái Cambridge (P7)

Lý thuyết kỉnh tế của K. Wicksell (1851 – 1926): K. Wicksell sinh ở Thụy Điển, ông quan tâm tới nhiều lĩnh vực như triết học, toán học và kinh tế học. Sau 10 nãm nghiên cứu ở Pháp, Italia, Đức và du hoc nhat Anh, ông được phong là phó giáo sư trường đại học Lund, và sau đo' là giáo sư. Ông co' nhiều công trình như "Tư bản và địa tô" (1893), "Bài giảng kinh tế chính trị" (1901 – 1906). Lý thuyết về tiền tệ và tín dụng của Wichsell. Theo ông, tiền tệ co' các chức năng phương tiện trao đổi, thước đo giá trị và dự trữ giá trị. Trong đó, chức năng thứ nhất là quan trọng nhất. Khác với những của cải khác, tiền tệ không ra khỏi thị trường. Khi nđ không phải là phương tiện dịch vụ kế toán trọn gói trao đổi, nó thực hiện chức năng cất giữ giá trị. Thời gian mà tiền không nằm trong lưu thông là thời gian rỗi của tiền.

Thời kỳ này càng lớn thì tốc độ lưu thông của tiền càng thấp và số lượng tiền để rỗi sẽ chiếm phần lớn trong số lượng tiền chu chuyển hàng năm

Vỉ vậy, người ta có thể nói rằng, số lượng tiền có trong một nước bằng dich vu ke toan thue tron goi tổng số các trữ kim và số lượng đó càng giảm thì tốc độ lưu thông tiền càng cao. Trong kinh tế thị trường, mua và bán không diễn ra đồng thời, vì vậy, người bán giữ tiền mà họ có được do bán hàng trong một thời kỳ nào đó.Các dự trữ đó điều chỉnh và hạn chế càu về tiền tệ, các dự trữ này có xu hướng tăng lên cùng với sự tăng lên của dân cư và sự phát triển của hệ thống tiền tệ. Các trữ kim được tạo ra nhằm đối phó với tình hỉnh người có tiền không thực hiện đúng thời gian những chi tiêu đã dự kiến, hoặc để thực hiện những chi tiêu chưa được dự kiến. Trong loại thứ hai, người ta co' thể sử dụng số tiền tiết kiệm hoặc sô' tiền chờ đợi việc đầu tư có lợi. 

Tốc độc lưu thông tiền tệ có thể được đẩy nhanh lên là nhờ co' tín dụng. Tín dụng nhằm đảm bảo việc cho vay và nhận gửi chuyển dịch tư bản dưới hình thức tiền tệ. Đồng thời, nó cũng là nơi tập trung các nguồn tiết kiệm của dân cư. Những hoạt động vay mượn, chuyển dịch tư bản, thay đổi giữa tiền tệ làm phương tiện dự trữ và phương tiện lưu thông diễn ra trong mối liên hệ chặt chẽ, xen lẫn nhau, gối chồng lên nhau. Vì vậy, thị trường tiền tệ và "thị trường vay mượn tư bản là thống nhất với nhau. Về tỉ suất lợi tức, ông phân biệt tỉ suất lợi tức tự nhiên và tỉ suất lợi tức của tiền. Tỉ suất lợi tức tự nhiền là mức thu nhập dự tính của tư bản mới. No' được xác định theo nâng suất giới hạn của tư bản mới. Lãi xuất tiền là lãi suất tư bản cho vay. Lượng của no' phụ thuộc vào cung càu về tư bản thực tế. No' có xu hướng trùng với lãi xuất tự nhiên.

Vì các nhà kinh doanh có xu hướng cạnh tranh với nhau vay mượn để có tư bản cố định. Khi tỉ suất lợi tức tự nhiên và tỉ suất lợi tức của tiền để tách rời nhau, thì tiền tệ sẽ bị mất cân đối. Muốn lập được sự cân đối về tiền tệ, càn nhải co' 3 điêu kiện: Phải co' sự thống nhất giữa tỉ suất lợi tức tự nhiên và tỉ suất lợi tức của tiền; Phải co' sự cân đối giữa cung và cầu tư bản hay giữa tiết kiệm và đầu tư; Phải co' sự ổn dinh giá cả, nhất là giá cả hàng tiêu dùng. Tỉ suất lợi tức chịu sự tác động ở mức độ nào đó của ngân hàng. Theo ông, các ngân hàng không bao giờ thay đổi các tỉ suất lợi tức của chúng trừ khi chúng bị đẩy xuống dưới sức ép của hoàn cảnh bên ngoài. Ngân hàng tăng ti suất khi họ thấy kho vàng dự trữ bị giảm sút, hay khi các trái khoán của chúng quá lớn so với sô' vàng dự trữ của họ, hoặc là khi cả hai trường hợp đo' cùng xuất hiện. Ngân hàng sẽ giảm tỉ suất lợi tức khi co' điều kiện ngược lại tức là khi dự trữ vàng tăng lên, số lượng trái khoán giảm sút hoặc cả hai trường hợp.

Nội dung bạn đang xem còn rất nhiều trong chuyên mục Điện máy, nếu bạn quan tâm nhiều chủ đề hơn vui lòng truy cập http://thamdinhthuonghieu.net